Skkn Một số biện pháp để dạy tốt phần mở rộng vốn từ theo các chủ điểm trong môn Tiếng Việt lớp 4

 


I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn sáng kiến:

Trong các môn học và hoạt động giáo dục, Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc Tiểu học. Nếu như việc học Toán giúp học sinh phát triển tư duy logic thì việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, các em sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Để có thể làm được điều này, các em phải nắm vững các kiến thức môn học một cách chắc chắn và có một vốn từ nhất định. Chính vì lẽ đó đặt ra yêu cầu  cho người giáo viên phải quan tâm đến  việc cung cấp, mở rộng thêm vốn từ cho học sinh; quan tâm đến quá trình học sinh sử dụng từ ngữ đã học trong nói, viết, trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên trong thực tiễn dạy học bản thân tôi nhận thấy vốn từ của học sinh hết sức hạn chế, các em còn lúng túng khi trình bày ý kiến và kĩ năng diễn đạt chưa trôi chảy, mạch lạc. Bởi  vậy trong quá trình giảng dạy tôi đã không ngừng tìm tòi, học hỏi để tìm ra các biện pháp dạy học mang lại hiệu quả tốt nhất.

Như chúng ta đã biết, trong hệ thống ngôn ngữ thì từ có vai trò đặc biệt quan trọng. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Vốn từ là một trong những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ. Cho nên, nếu không có một vốn từ đầy đủ thì học sinh không thể diễn đạt trôi chảy, mạch lạc. Vốn từ của học sinh càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ càng phong phú, linh hoạt bấy nhiêu, sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng đặc sắc bấy nhiêu và việc cảm thụ nội dung các bài văn, bài thơ càng dễ dàng hơn. Bởi thế việc dạy mở rộng vốn từ cho học sinh ở Tiểu học có vị trí, tầm quan trọng rất lớn. Nó góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ của chính mình vào những hoạt động giao tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho các em khi giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày một cách dễ dàng. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải  dạy mở rộng vốn từ như thế nào để học sinh tiểu học nắm chắc vốn từ, phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên nhất.

Tuy nhiên phải thừa nhận rằng thực tế  hiện nay việc dạy mở rộng vốn từ còn có rất nhiều hạn chế và chưa đạt kết quả cao như mong muốn. Một trong những hạn chế đó là do giáo viên chưa xây dựng được phương pháp dạy phù hợp với mục đích, nội dung của bài học đề ra. Mặt khác học sinh Tiểu học có năng lực tư duy còn hạn chế, vốn từ của các em còn nghèo nàn, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ chưa cao. Nhận thấy được vị trí và tầm quan trọng cũng như các hạn chế trong học sinh, giáo viên  đã thôi thúc tôi viết bản sáng kiến kinh nghiệm. "Một số biện pháp để dạy tốt phần mở rộng vốn từ theo các chủ điểm trong môn Tiếng Việt lớp 4".

2.  Điểm mới của sáng kiến:

Điểm mới cơ bản nhất trong sáng kiến kinh nghiệm là đưa ra một số biện pháp đã thực hiện có hiệu quả ở lớp bản thân đã và đang giảng dạy và áp dụng tại đơn vị trong việc dạy học phần mở rộng vốn từ trong môn Tiếng Việt lớp 4.

Sáng kiến kinh nghiệm đã đi sâu nghiên cứu các phương pháp dạy học phần mở rộng vốn từ trong môn Tiếng Việt ở các khía cạnh khác nhau và lựa chọn các phương pháp phù hợp cho từng bài dạy, từng đối tượng học sinh, giúp giáo viên chủ động trong từng tiết dạy; giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, tích cực, đặc biệt là kĩ năng  dùng vốn từ vào giao tiếp đạt đạt hiệu quả cao nhằm hướng tới việc dạy học phát triển các năng lực cho học sinh, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ.

 

II. PHẦN NỘI DUNG

1. Thực trạng của việc dạy phần mở rộng vốn từ trong môn Tiếng Việt lớp 4

1. 1. Về nội dung chương trình dạy học mở rộng vốn từ trong các chủ điểm

          Trường tôi dạy đang thực hiện dạy học theo mô hình trường học mới, học sinh được tiếp cận các kiến thức thông qua tài liệu hướng dẫn học. Với việc thực hiện  tài liệu này, ở môn Tiếng Việt không còn được phân tách thành các phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập viết, Tập làm văn và Luyện từ và câu như trong Sách giáo khoa hiện hành. Các kiến thức Tiếng Việt được đan xen, lồng ghép thông qua từng chủ điểm, từng bài học.

          Ví dụ Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, Sách giáo khoa hiện hành sẽ có tên bài học như: Bài mở rộng vốn từ: Trung thực - Tự trọng còn với tài liệu hướng dẫn học theo mô hình trường học mới thì phần mở rộng vốn từ được lồng ghép vào bài 5A Làm người trung thực, dũng cảm (tiết 2) và bài 6C Trung thực - Tự trọng (tiết 1). Chính vì điều này nên học sinh khó khái quát được nội dung học.

          Cụ thể ở tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 4 gồm có 10 chủ điểm như sau:

- Chủ điểm 1: Thương người như thể thương thân (có 2 tiết mở rộng vốn từ Nhân hậu - Đoàn kết).

- Chủ điểm 2: Măng mọc thẳng (có 2 tiết mở rộng vốn từ Trung thực - Tự trọng).

- Chủ điểm 3: Trên đôi cánh ước mơ ( có 1 tiết mở rộng vốn từ Ước mơ).

- Chủ điểm 4: Có chí thì nên ( có 2 tiết mở rộng vốn từ Ý chí - Nghị Lực).

- Chủ điểm 5: Tiếng sáo diều ( có 2 tiết mở rộng vốn từ Đồ chơi - Trò chơi).

- Chủ điểm 6:  Người ta là hoa đất (có 1 tiết mở rộng vốn từ Tài năng, 1 tiết mở rộng vốn từ Sức khỏe ).

- Chủ điểm 7: Vẻ đẹp muôn màu ( có 2 tiết mở rộng vốn từ Cái đẹp).

- Chủ điểm 8: Những người quả cảm ( có 2 tiết mở rộng vốn từ Dũng cảm).

- Chủ điểm 9: Khám phá thế giới (có 2 tiết mở rộng vốn từ Du lịch - Thám hiểm).

- Chủ điểm 10: Tình yêu cuộc sống (có 2 tiết mở rộng vốn từ Lạc quan - Yêu đời).

1. 2. Về phía giáo viên:

          Nhà trường luôn tạo điều kiện trong công tác dạy và học. Sách giáo khoa, sách hướng dẫn và tài liệu tham khảo được trang cấp đầy đủ.

         Bản thân giáo viên yêu nghề, có năng lực sư phạm vững vàng.

1. 3. Về phía học sinh:

Vốn từ của các em chưa phong phú. Mỗi một chủ điểm các em tìm được một số ít từ. Việc huy động vốn từ và vận dụng vào thực tiễn giao tiếp còn hạn chế.

Xuất phát từ thực trạng đó tôi đã tìm nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy phần mở rộng vốn từ thuộc các chủ điểm trong môn Tiếng Việt lớp 4. Qua ba năm thực hiện, tôi đã gặt hái được những thành công đáng phấn khởi. Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin đưa ra một số biện pháp mà bản thân thực sự tâm đắc.

2. Một số biện pháp  để nâng cao hiệu quả dạy phần mở rộng vốn từ thuộc các chủ điểm trong môn Tiếng Việt lớp 4

2. 1. Thiết kế “ cuốn sổ từ”

        Nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, phải có thầy, có sách chỉ dẫn mới học được. Cuốn từ điển là một công cụ không thể thiếu giúp các em có thể giải thích được nghĩa của từ nhưng việc tìm các từ ngữ trong từ điển còn gây mất thời gian do nhiều từ ngữ trong từ điển không liên quan đến chủ điểm đang học. Vì vậy qua một số năm giảng dạy lớp 4, tôi thấy việc tổng hợp ra một cuốn sổ từ dành riêng cho học sinh và giáo viên lớp 4 là rất cần thiết. Nó được dùng như một cuốn từ điển thu gọn giúp cho học sinh tìm thêm được từ nhanh và chính xác nhất. Do đó tôi đã chủ động soạn ra các từ ngữ liên quan đến các chủ điểm để phục vụ cho việc dạy và học.

 Ví dụ: Bài 9A:  Những điều em mơ ước (tiết 3) 

           Mở rộng vốn từ:  Ước mơ, chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ   

Với bài này tôi viết vào sổ từ như sau:

- Ước mơ/mơ ước : Mong muốn ước ao tới điều tốt đẹp trong tương lai.

- Ước mong/ mong ước: Mong muốn và ước ao có được một cách thiết tha.

- Mơ mộng : Say mê đeo đuổi những điều tốt đẹp nhưng xa vời khó thành hiện thực.

- Ước vọng : Mong muốn một cách  thiết tha về những điều tốt đẹp.

- Ước hẹn: Hẹn với nhau.

- Ước nguyện : Mong muốn thiết tha.

- Mơ màng: Thấy phảng phất không rõ ràng trong trạng thái mơ ngủ hay tựa như mơ.

- Ước ao: Cầu mong điều cao xa.

- Mơ tưởng: Mong mỏi ước ao một cách hảo huyền.

Học sinh sử dụng cuốn sổ từ này để tìm thêm từ theo chủ điểm và  chắc chắn chất lượng từ tìm được sẽ cao và tiết kiệm được thời gian cho yêu cầu này. Mặt khác, ở mỗi một chủ điểm giáo viên phải hướng cho học sinh huy động thêm vốn từ qua thực tiễn cuộc sống, thông qua các môn học khác để bổ sung thêm vào cuốn sổ từ cho học sinh.

2. 2. Giải nghĩa từ bằng đồ dùng trực quan, từ đồng nghĩa, kết hợp dựa vào ngữ cảnh, tình huống.

 Để cung cấp vốn từ cho học sinh, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ tên chủ điểm. Do đó, công việc đầu tiên của dạy từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ. Giải nghĩa từ theo định nghĩa thì học sinh tiếp thu bài một cách máy móc, đôi lúc là học vẹt, không hiểu nghĩa từ một cách chính xác, sâu xa, bởi thế khi dùng từ thường không phù hợp với yêu cầu diễn đạt trong câu đặc biệt là từ Hán Việt. Vì vậy trong thực tế, khi giải nghĩa từ hoặc xây dựng những bài tập giải nghĩa từ tôi thường kết hợp các biện pháp khác nhau như: vừa dùng trực quan, vừa dùng từ đồng nghĩa, kết hợp dựa vào ngữ cảnh, tình huống thông qua hệ thống các câu hỏi và bài tập bổ sung…

Ví dụ: Bài 12A: Những con người nghị lực  (tiết 2)

Mở rộng vốn từ:  Ý chí - Nghị lực  (Chủ điểm Có chí thì nên)

Giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu ý nghĩa của từ ý chí  bằng cách yêu cầu các em tạo ra ngữ cảnh cụ thể để học sinh hiểu rõ nghĩa của từ.

Việc tạo ngữ cảnh, tình huống giúp cho các em có khả năng vận dụng

sử dụng tốt các từ cùng nghĩa hoặc nghĩa tương đương. Không những thế mà còn rèn cho học sinh cách dùng từ như thế nào cho hợp lí, cho hay, thể hiện sắc thái biểu cảm mà từ mang lại.

Ví dụ: Em hãy điền từ thích hợp vào chỗ chấm (...)

a) Đôi mắt ............. của Hải làm người ta thấy thương hơn.

          b) Hãy ghi lại các từ miêu tả mức độ cao của cái đẹp. Đặt câu với một từ ngữ vừa tìm được.

Học sinh có thể chọn các từ khác nhau để điền sao cho phù hợp. Thông qua bài tập này sẽ giúp học sinh phát triển tốt năng lực ngôn ngữ của bản thân.

Giáo viên phải tạo điều kiện tốt nhất để huy động hết sự hiểu biết về nghĩa của từ mà các em có được. Khi học sinh tập giải nghĩa từ, giáo viên cũng cần chấp nhận nhiều cách diễn đạt khác nhau đôi khi còn vụng về. Từ đó, uốn nắn để các em hiểu nghĩa, giải nghĩa từ cho chính xác hơn.

Để mở rộng thêm vốn từ cho học sinh, giáo viên cần tạo ra các ngữ cảnh, vì khi có ngữ cảnh thì tạo ra được tình huống có vấn đề  và yêu cầu các em huy động vốn từ của mình để xử lý tình huống đó. Như vậy là chúng ta vừa giúp các em luyện kĩ năng sử dụng từ vừa giúp các em phát huy được vốn từ của mình đồng thời giúp các em biết cách sử dụng các câu thành ngữ, tục ngữ vào làm bài tập.

Ví dụ: Em hãy viết về một người nhờ có ý chí, nghị lực nên đã vượt qua khó khăn và đạt được thành công trong đó có sử dụng các câu thành ngữ, tục ngữ về chủ điểm: Có chí thì nên.

Giáo viên có thể đưa ra một số tình huống để rèn cho các em sử dụng tốt các thành ngữ  thuộc chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ vào giao tiếp.

Ví dụ: Hãy điền các thành ngữ sao cho phù hợp với các tình huống sau:

- Bạn em mơ ước đạt danh hiệu học sinh giỏi. Em nói với bạn...(Chúc cậu ước sao được vậy)

 - Em được tặng thứ đồ chơi mà mình đang mơ ước. Em nói: ... (Mình đã cầu được ước thấy)

            Ví dụ: Bài 13A: Vượt lên thử thách (tiết 3)

            Hoạt động 2: Viết một đoạn văn ngắn nói về một người do có ý chí, nghị lực nên đã vượt qua nhiều thử thách, đạt được thành công.

           Với bài tập này, mỗi học sinh có cách lựa chọn từ riêng, sử dụng những từ vừa học được để viết cho phù hợp với nhân vật, tình huống  theo yêu cầu. Từ đó các em biết cách lựa chọn, sử dụng từ đúng theo ngữ cảnh…

2. 3. Làm giàu vốn từ cho học sinh bằng hình ảnh, tư liệu, liên hệ thực tế địa phương, bản thân và phối hợp với các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Kiến thức Tiếng Việt vốn bắt nguồn từ đời sống thực tế. Một trong những con đường làm giàu vốn từ cho học sinh hiệu quả đó là bằng hình ảnh, tư liệu, qua liên hệ thực tế với cuộc sống xung quanh có liên quan đến chủ điểm. Nếu khi dạy, giáo viên liên hệ thực tế để học sinh tìm kiến thức thì các em làm bài tập tốt hơn, hứng thú và nắm kiến thức sâu hơn. Sau mỗi hoạt động hoặc mỗi bài, giáo viên kết hợp liên hệ thực tế để giáo dục các em vận  dụng những điều đã học vào cuộc sống. Có như vậy, các em mới cảm thấy kiến thức bài học gần gũi, lí thú và bổ ích hơn.

Ví dụ: Bài 30A: Vòng quanh Trái đất (tiết 3)

         Mở rộng vốn từ:  Du lịch - Thám hiểm

Giáo viên cung cấp hình ảnh của các đoàn du lịch, thám hiểm sau đó trình chiếu cho học sinh xem. Thông qua hình ảnh tư liệu được xem học sinh hiểu được để đi du lịch, thám hiểm cần chuẩn bị những đồ dùng, phương tiện, những địa điểm để đi du lịch, tham quan cũng như kết quả mà mỗi chuyến đi đó mang lại cho mọi người là niềm vui, sự dũng cảm, tình cảm gia đình, bạn bè,.... Cuối cùng cho học sinh liên hệ xem ở địa phương, huyện, tỉnh mà em sinh sống có những địa điểm du lịch, thám hiểm nào? Đã có khi nào em được tới các nơi đó chưa? Cảm giác của em sau mỗi chuyến du lịch đó?      

Kết hợp hoạt động ngoài giờ để tăng vốn từ, luyện kĩ năng dùng từ. Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các giờ chơi, các trò chơi dân gian, các cuộc thi, các cuộc toạ đàm trao đổi, các hoạt động nhân đạo,...học sinh sẽ tích luỹ được vốn từ cho mình. Ví dụ: Tổ chức cho học sinh đến thăm các gia đình có công, đến giúp các gia đình neo đơn làm cỏ vườn hay quét dọn, sắp xếp lại một số đồ dùng trong nhà ,... hay tổ chức cho học sinh tham gia phong trào ủng hộ, giúp các bạn có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Thông qua hoạt động đó học sinh hiểu rõ hơn về tình cảm yêu thương đồng loại, tinh thần đùm bọc, tương thân tương ái, hiểu được như thế nào là nhân hậu biết thêm vốn từ về nhân hậu - đoàn kết.

Đặc biệt sau mỗi hoạt động tôi thường tổ chức cho các em chia sẻ cảm xúc của mình sau khi tham gia. Từ đó học sinh có thể sử dụng từ ngữ để diễn đạt cảm xúc, suy nghĩ của mình một cách rõ ràng.

Hay khi tổ chức cho các em chơi các trò chơi, học sinh nhận ra được những trò chơi nào có lợi và chơi như thế nào thì có hại, tác dụng của việc tham gia các trò chơi...  thông qua chơi trò chơi vốn từ về đồ chơi, trò chơi được mở rộng.

Sưu tầm thêm tài liệu tranh ảnh kết hợp liên hệ thực tế địa phương, tổ chức cho học sinh đi trải nghiệm thực tế bởi mở rộng vốn từ là làm giàu thêm vốn từ cho học sinh nên khi dạy về các chủ điểm giáo viên cần tìm các hình ảnh, tư liệu có liên quan đến chủ điểm đó trình chiếu cho học sinh xem, qua đó vốn từ của các em sẽ được làm giàu thêm một cách hiệu quả về số lượng lẫn chất lượng.

2. 4. Tạo hứng thú cho học sinh, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học

Trong dạy học, tạo hứng thú cho học sinh là rất quan trọng. Nó gần như quyết định hiệu quả của việc dạy học. Khi học sinh có hứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập thì giờ dạy mới diễn ra nhẹ nhàng, học sinh chủ động nắm được kĩ năng, kiến thức.

Để tạo hứng thú cho học sinh, tôi thường tạo cho các em không khí sẵn sàng học tập ngay từ hoạt động giới thiệu bài. Giới thiệu bài không chỉ đơn giản là nêu mục đích, yêu cầu của tiết học mà còn là bước tạo không khí sôi nổi, thu hút các em vào giờ học. Có thể giới thiệu bài bằng nhiều cách: Liên hệ kiến thức trong chủ điểm đang học bằng trò chơi, hỏi đáp…

Ví dụ: Bài 9A: Những điều em mơ ước (tiết 3)

          Mở rộng vốn từ:   Ước mơ

Ban văn nghệ tổ chức cho cả lớp chơi trò chơi “Đoán ô chữ”. Lớp chia thành hai đội, cho các bạn nghe bài hát Ước mơ và có thể có gợi ý: Tên bài hát cũng là nội dung chủ điểm mà chúng ta đang học. Ban văn nghệ yêu cầu các bạn đoán. Đội nào giải được ô chữ là đội giành chiến thắng, được tuyên dương. Đội đoán sai sẽ phải hát chung một bài. Sau đó thông qua trò chơi giáo viên giới thiệu bài. Theo cách giới thiệu bài trên, không những tạo hứng thú cho các em sẵn sàng tiết học mà cả từ của bài hát cũng góp phần gợi ý thông tin cho học sinh làm các bài tập trong tiết học.

 Để thu hút học sinh vào bài học, ngoài giới thiệu bài thì trong khi tổ chức, hướng dẫn làm bài tập tôi cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sự hứng thú đối với học sinh tránh sự nhàm chán bằng cách mạnh dạn điều chỉnh, bổ sung  một số nội dung dạy học cho phù hợp.

Ví dụ: Bài 3C:  Nhân hậu - Đoàn kết  (tiết 2)

Ở hoạt động 3: Tôi hướng dẫn cách làm bài tương tự như trò chơi Rung chuông vàng, cách làm như sau:

- Bước 1: Ban học tập yêu cầu các bạn đọc và nắm yêu cầu của bài tập.

- Bước 2 : Ban học tập phổ biến cách làm: các bạn suy nghĩ, lần lượt viết vào bảng con các từ thích hợp trong ngoặc để hoàn chỉnh các câu thành ngữ. Sau thời gian quy định học sinh sẽ cùng đưa bảng lên . Bạn nào sai sẽ đứng sang một bên và phải hát một bài hoặc làm một động tác gây cười cho cả lớp mới được quay lại “sàn thi đấu”

- Bước 3: Ban học tập điều hành các bạn chơi. Giáo viên chốt lời giải đúng. Sau đó cho học sinh đọc thuộc các câu thành ngữ đã hoàn chỉnh.

Mỗi một tiết dạy chúng ta thường sử dụng các hình thức dạy học đan xen nhau. Ở đây tôi đề cao hoạt động nhóm. Vì thông qua sự thi đua giữa các nhóm, học sinh cùng hỗ trợ nhau khai thác triệt để vốn từ sẵn có ở các em, tính sáng tạo ở cá nhân, tập thể tạo nên không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh được bộc lộ mình, đồng thời tạo môi trường để các em hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập. Học sinh yếu kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, có điều kiện tiến bộ trong quá trình hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Ví dụ bài 22C:  Từ ngữ về cái đẹp

hoạt động 2 tôi hướng dẫn Ban học tập chia lớp thành 3 nhóm - Tổ chức cho học sinh thi tìm các từ.

a) Các từ thể hiện vẻ đẹp của con người

b) Các từ thể hiện vẻ đẹp của con vật

c) Các từ dùng để thể hiện vẻ đẹpcủa cảnh vật

Ví dụ: Bài 34A: Tiếng cười là liều thuốc bổ (tiết 2)

           Mở rộng vốn từ Lạc quan - Yêu đời

Ở hoạt động 3 tôi hướng dẫn Ban học tập chia lớp thành  3 đội, cử 3 bạn làm trọng tài. Tổ chức cho học sinh thi tìm các từ miêu tả tiếng cười bằng cách ghi vào bảng nhóm. Sau thời gian 2 phút, đội nào tìm được nhiều từ nhất, nhanh nhất thì phần thắng sẽ thuộc về đội đó.

2. 5. Đưa ra hệ thống câu hỏi mở - chuyển viết thành kể

Nhiệm vụ quan trọng và cũng là yêu cầu cần thiết của dạy vốn từ cho học sinh là luyện cho học sinh sử dụng được từ vào trong thực tiễn giao tiếp, vào thực hành viết văn.Thông qua hệ thống các câu hỏi mở các em dễ dàng định hình được yêu cầu của bài tập từ đó hoàn chỉnh được bài văn, đoạn văn.

Ví dụ: Bài 13A: Vượt lên thử thách (tiết 3)

 Mở rộng vốn từ Ý chí - Nghị lực

Ở hoạt động 2: Viết một đoạn văn ngắn nói về người do có ý chí, nghị lực nên đã vượt qua khó khăn, thách thức đạt được thành công".

 Với hoạt động này tôi hướng dẫn học sinh thông qua một vài câu hỏi gợi ý, tạo chỗ dựa cho học sinh viết đoạn văn theo yêu cầu cho trước. Ví dụ: Em biết ai là người có ý chí nghị lực trong cuộc sống? Người đó ở đâu? Người đó gặp khó khăn gì? Người đó đã suy nghĩ như thế nào, đã làm gì để vượt qua khó khăn đó? Em có cảm nhận gì về ý chí nghị lực của người ấy?

2. 6. Khéo léo trong khâu đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Việc kiểm tra, đánh giá là một việc làm quan trọng, thiết thực. Bởi việc kiểm tra đánh giá vừa tạo hứng thú học tập cho học sinh vừa củng cố uốn nắn kịp thời. Tôi luôn dành thời gian thích hợp cho khâu này. Với những bài làm sai, tôi không nhận xét chung chung là sai mà nêu cụ thể nhằm giúp các em xác định được điều chưa làm được, từ đó làm cho học sinh dễ nhận ra sai ở đâu, như thế nào một cách chi tiết. Khi chữa bài tập, tôi không chỉ đánh giá thế này là sai, thế kia là đúng mà giúp HS xác định lại cách làm, đối chiếu yêu cầu xem đã đúng, phù hợp chưa.

Mặt khác, trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Nhưng hiện nay theo thông tư mới giáo viên tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau, thông qua quá trình tham gia đánh giá, năng lực, vốn từ của học sinh được huy động và được rèn luyện. Trong đánh giá tôi luôn định hướng học sinh dựa vào mục tiêu, tiêu chí của bài học, tiết học để đánh giá kết qủa học tập và đánh giá phải toàn diện tất cả các mặt: kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ...

Việc  động viên, khích lệ học sinh là một bước không thể thiếu trong quá trình dạy học. Vì thế tôi luôn cố gắng đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách khéo léo nhất nhằm khích lệ học sinh học tập tiến bộ. Bởi việc động viên khích lệ giúp học sinh có niềm tin hơn, là động lực cho các em cố gắng hơn.

Các biện pháp trên  sẽ có hiệu quả hơn khi giáo viên sử dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức dạy học và luôn tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

3. Kết quả đạt được:

Sau khi áp dụng 6 biện pháp trên vào thực tiễn dạy học tôi nhận thấy:

- Vốn từ của các em đã phong phú, đa dạng hơn.

- Các em đã biết sử dụng vốn từ của mình và vận dụng vào thực tiễn giao tiếp một cách linh hoạt.

- Kĩ năng diễn đạt đã tự tin, mạnh dạn hơn trước rất nhiều.

Cụ thể chất lượng cuối năm môn Tiếng Việt năm học 2017 - 2018 của lớp tôi giảng dạy như sau:

 

Môn

 

TS

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

Số lượng

Tỉ lệ %

 

Số lượng

Tỉ lệ %

 

Số lượng

Tỉ lệ %

Tiếng Việt

32

18

56.2

14

43.8

0

0

 

III. PHẦN KẾT LUẬN

Qua thực tế dạy học tôi nhận thấy để giúp học sinh có vốn từ phong phú, biết huy động vốn từ vào thực tiễn giao tiếp tốt thì người giáo viên cần:

- Trau dồi, tích lũy cho mình vốn kiến thức từ ngữ phong phú, ngôn ngữ phải chuẩn xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, trong sáng gần gũi đời sống ngôn ngữ trẻ thơ.

- Xác định rõ mục tiêu của tiết dạy để chuẩn bị bài dạy một cách chu đáo và đầy đủ các phương tiện dạy học phục vụ cho bài dạy. Ở mỗi bài dạy, giáo viên phải xác định được: bài dạy cần những gì? Dạy như thế nào? Để tiết dạy nhẹ nhàng, tự nhiên  và hiệu quả từ đó lựa chọn phương pháp và cách tổ chức các trò chơi phù hợp với nội dung bài học, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.

 - Biết cung cấp chọn lọc vừa phải số lượng từ ngữ theo chủ đề, song cũng phải biết lựa chọn những từ xa lạ không cần thiết với vùng địa lý, với cuộc sống hàng ngày của trẻ chỉ mang tính chất cung cấp để tham khảo, khi cần dùng tới. Coi trọng nguyên tắc dạy học vừa sức nhằm phát huy tiềm lực và năng khiếu Tiếng Việt ở mỗi học sinh.

- Biết lựa chọn hệ thống phương pháp và hình thức dạy học trong lớp, ngoài trời phù hợp với nội dung bài dạy và đối tượng học sinh của lớp. Tạo nên sự hoạt động đồng bộ giữa thầy và trò, tạo sự hứng thú học tập của học sinh một cách tự nhiên, thoải mái. Để đạt yêu cầu đó yêu cầu giáo viên phải biết khai thác vốn kiến thức của trẻ vào việc xây dựng kiến thức bài học và nghiên cứ bài học kĩ lưỡng khi lên lớp, có như vậy tiết dạy mới đạt hiệu quả cao.

- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức đã được học, những hiểu biết trong cuộc sống để mở rộng vốn từ ngữ đã học trong việc học tập các môn khác và trong giao tiếp. Cần uốn nắn việc dùng từ của các em ở mọi môn học, trong mọi hoạt động và ở khắp nơi. Trong quá trình dạy học luôn coi trọng khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh.

- Người giáo viên cần mạnh dạn điều chỉnh, bổ sung một số nội dung dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh của lớp. 

Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã thực hiện có hiệu quả trong quá trình dạy học. Có thể những biện pháp tôi trình bày chưa thật tối ưu với đồng nghiệp.

Bản thân tôi rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng khoa học các cấp, sự chia sẻ của đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn chỉnh và áp dụng có hiệu quả hơn nhằm góp phần mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh theo từng chủ điểm, đồng thời nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt lớp 4.

Previous Post Next Post

QC

QC